Theo TS. Trần Quang Hùng – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA):”Luật của chúng ta nghe thì hay, nhưng khi triển khai thì lại có “vấn đề”. Điều mà doanh nghiệp (DN) chờ đợi chính là những nghị định, thông tư để triển khai luật. Những quy định như vậy sẽ “cởi trói” cho DN, mở đường thông thoáng cho DN”.
Ông Hùng cho rằng, hàm lượng chất xám, hàm lượng công nghệ ở trong các sản phẩm của DN Việt Nam còn rất thấp. Riêng trong ngành điện tử, giá trị gia tăng trong vòng 20 năm qua chỉ loanh quanh ở mức 10-15%, mà không thể bứt lên được. Nguyên nhân chính là do DN không mặn mà với việc nghiên cứu thiết kế, phần lớn đi lắp ráp những sản phẩm của nước ngoài đã có sẵn: “Những gì gọi là “tinh túy” thì DN nước ngoài đều “ăn” hết cả, còn DN Việt Nam chỉ dùng lại “vỏ, bã”,nên việc chỉ hưởng lợi ở mức thấp là điều không tránh khỏi trong ngành điện tử. Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu (XK) 7 tỷ USD hàng điện tử, nhưng có đến… 98% là của các DN FDI.
Lợi nhuận chỉ ở mức 10-15%
Ông Hùng dẫn chứng một nhà máy của Samsung ở Bắc Ninh trong năm 2011 XK hơn 1 tỷ USD, nhưng XK 100% và cũng nhập khẩu 100%. Hay trường hợp nhà máy của Sony tại Tp.HCM đầu tư một dây chuyền lắp ráp hiện đại trong vòng 14 năm. Thế nhưng, khi Việt Nam tham gia vào WTO, thuế nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc giảm là ngay lập tức đóng cửa nhà máy. Ngoài ra, nhà máy lớn như vậy nhưng lại chưa có đến 10 kỹ sư, đặc biệt là không có một kỹ sư thiết kế nào. Phần lớn là kỹ sư công nghệ, 300 công nhân thì chủ yếu làm việc thủ công. Khi giải thể, công nhân sẽ rất khó tìm được việc.
Mọi người thử tưởng tượng một người công nhân 35 tuổi mà chỉ có biết cầm linh kiện thì ra đi tìm việc ở đâu? Vậy ứng dụng khoa học công nghệ của họ ở đâu? Chúng ta được cái gì ở đấy?”, ông Hùng trăn trở.
“Mệt mỏi” với cơ chế
Vẫn theo ông Hùng, nếu không có ứng dụng khoa học công nghệ, không làm chủ được khoa học kỹ thuật, công nghệ, mà cứ đi theo lắp ráp, gia công đơn giản, hay sang Trung Quốc mua về rồi dán nhãn mác vào, thì Việt Nam sẽ bị tụt lùi.
Ông Hùng cho biết DN rất “mệt mỏi” với cơ chế của Bộ Tài chính: “DN buộc phải nói dối khi thanh, quyết toán, giải ngân… các đề tài nghiên cứu khoa học – công nghệ. Mới đến tháng 10 mà Bộ này đã đòi quyết toán thì chắc chắn chúng tôi phải “quanh co”. Bình thường thì không sao, nhưng nếu có chuyện gì trong nội bộ phát hiện ra thì mấy “ông” chủ nhiệm đề tài ngay lập tức gặp rắc rối. DN thực hiện các nghiên cứu khoa học mà có “dính dáng” một chút tới Nhà nước thì sẽ phải chia như sau: tập trung vào khoa học công nghệ 50%, 30% để “chiến đấu” với các bộ ngành về vấn đề cơ chế, 10% đi lobby, 10% còn lại thì mới dành để quảng cáo sản phẩm”.
Ông Trần Hữu Huỳnh – Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại cà Công nghệ Việt Nam (VCCI), cho rằng “nỗi dau này không của riêng ai”, ngoài ngành điện tử, thì ngành giầy da, dệt may, đóng tàu… cũng thế.
TS. Hùng thừa nhận trên thực tế, công nghiệp điện tử Việt Nam lạc hậu từ 1—20 năm so khu vực và thế giới. Do đó, việc phát triển cần phải có chính sách điều chỉnh hợp lý, tránh mắc tiếp những sai lầm, có định hướng rõ ràng, không nên phát triển theo chiều rộng mà chỉ nên đầu tư theo chiều sâu. DN chỉ nên chọn một chuyên ngành, tập trung vào sản xuất loại sản phẩm mình có thế mạnh, nhằm tạo ra sức cạnh tranh cao để có thể tham gia hệ thống sản xuất khu vực…
Cần tạo mối liên kết chặt chẽ với DN FDI để sản xuất hỗ trợ, tăng khả năng huy động nhiều nguồn tài chính và hỗ trợ hơn nữa để các DN lĩnh vực này tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi và dài hạn cho đầu tư phát triển. Trong Đề án phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã hình thành và đưa vào hoạt động hệ thống các quỹ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (Quỹ đổi mới công nghệ cao quốc gia, Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia…).
(Nguồn: Thời báo kinh doanh, số 115, 25/6/2012, tr. 4)








